Lý thuyết và câu hỏi trắc nghiệm nhân dân hai miền Nam – Bắc trực tiếp đương đầu với đế quốc Mĩ xâm lược (1965 – 1973)

THI247.com giới thiệu đến bạn đọc tài liệu lý thuyết trọng tâm và câu hỏi trắc nghiệm nhân dân hai miền Nam – Bắc trực tiếp đương đầu với đế quốc Mĩ xâm lược (1965 – 1973) trong chương trình Lịch sử lớp 12.

Mục tiêu:
Kiến thức:
+ Hiểu rõ được âm mưu, thủ đoạn, hành động của đế quốc Mĩ ở Việt Nam và Đông Dương thông qua các chiến lược “Chiến tranh cục bộ”, “Việt Nam hóa chiến tranh” và “Đông Dương hóa chiến tranh”.
+ Trình bày và phân tích được những thắng lợi quyết định của quân dân ta trên cả hai miền đất nước chiến đấu chống chiến lược “Chiến tranh cục bộ” và “Việt Nam hóa chiến tranh”, buộc Mĩ phải ngồi vào bàn đàm phán tại Pari để bàn về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam.
+ Nêu được nội dung và phân tích ý nghĩa của Hiệp định Pari năm 1973 về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam.
Kĩ năng:
+ Sử dụng SGK, tài liệu tham khảo, quan sát tranh ảnh, bản đồ, phim tư liệu, … để đánh giá, nhận thức lịch sử.
+ Phân tích, đánh giá, so sánh, … các vấn đề, các sự kiện lịch sử.
I. LÍ THUYẾT TRỌNG TÂM
QUÂN DÂN MIỀN NAM CHIẾN ĐẤU CHỐNG CHIẾN LƯỢC “CHIẾN TRANH CỤC BỘ” CỦA ĐẾ QUỐC MĨ (1965 – 1968) 1. Chiến lược “Chiến tranh cục bộ” của Mĩ ở miền Nam a. Hoàn cảnh ra đời Chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” thất bại → giữa năm 1965, Mĩ chuyển sang thực hiện chiến lược “Chiến tranh cục bộ” ở miền Nam. b. Đặc điểm – Là loại hình chiến tranh xâm lược thực dân mới của Mĩ. – Được tiến hành bằng lực lượng quân Mĩ, quân đội một số nước đồng minh của Mĩ và quân đội Sài Gòn. – Âm mưu: tạo ra ưu thế về binh lực và hỏa lực, giành lại thế chủ động trên chiến trường, đẩy lực lượng vũ trang cách mạng của Việt Nam vào thế bị động, phòng ngự. c. Thủ đoạn thực hiện – Ồ ạt đưa quân viễn chinh Mĩ, quân của các nước đồng minh và phương tiện chiến tranh hiện dại vào miền Nam Việt Nam. – Tăng cường viện trợ quân sự cho chính quyền Sài Gòn. – Mở hàng loạt các cuộc hành quân “tìm diệt” và “bình định” vào “đất thánh Việt Cộng”. – Tiến hành cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc (lần thứ nhất). 2. Chiến đấu chống chiến lược “Chiến tranh cục bộ” *Thắng lợi tiêu biểu của quân dân miền Nam a. Mặt trận chính trị, ngoại giao – Ở nông thôn: phong trào đấu tranh chống ách kìm kẹp của địch, phá từng mảng “ấp chiến lược”. – Ở thành thị: nhân dân đấu tranh đòi Mĩ rút về nước, đòi tự do dân chủ. – Uy tín của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam ngày càng được nâng cao trên trường quốc tế. – Từ đầu năm 1967, đấu tranh ngoại giao được nâng lên thành một mặt trận. b. Mặt trận quân sự Chiến thắng Vạn Tường (tháng 8/1965) – Diễn biến: + Ngày 18/8/1965, Mĩ mở rộng cuộc hành quân vào Vạn Tường (Quảng Ngãi) nhằm tiêu diệt một đơn vị chủ lực của Việt Nam. + Sau một ngày chiến đấu, lực lượng các mạng Việt Nam đã đẩy lùi cuộc hành quân của địch. – Ý nghĩa: + Mở ra khả năng có thể đánh bại chiến lược “Chiến tranh cục bộ”. + Mở ra cao trào “tìm Mĩ mà đánh”, lùng ngụy mà diệt trên khấp miền Nam. + Xuất hiện nhiều “vành đai diệt Mĩ”. + Phong trào thi đua trở thành “dung sĩ diệt Mĩ” và “đơn vị anh hung diệt Mĩ” diễn ra sôi nổi. Mùa khô thứ nhất (Đông – Xuân 1966 – 1967) – Mĩ mở cuộc phản công với 450 cuộc hành quân, nhằm vào 2 hướng chiến lược là: Đông Nam Bộ và Liên khu V. – Lực lượng cách mạng Việt Nam đánh địch trên mọi hướng, loại khỏi vòng chiến đấu hàng tram nghìn tên địch, làm thất bại âm mưu của địch. Mùa khô thứ hai (Đông – Xuân 1966 – 1967). – Mĩ mở cuộc phản công với 895 cuộc hành quân, trong đó có 3 cuộc hành quân lớn, lớn nhất là cuộc hành quân Gianxơn Xiti. – Lực lượng cách mạng Việt Nam đánh địch trên mọi hướng, loại khỏi vòng chiến đấu hàng tram nghìn tên địch, làm thất bại âm mưu của địch. Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân (1968), Ý nghĩa: – Lung lay ý chí xâm lược của Mĩ, buộc Mĩ phải tuyên bố “phi Mĩ hóa” chiến tranh xâm lược. – Mĩ phải chấm dứt không điều kiện chiến tranh phá hoại miền Bắc, ngồi vào bàn đàm phán ở Pari để bàn về chấm dứt chiến tranh xâm lược. – Mở ra bước ngoặc của cuộc kháng chiến chống Mĩ, cứu nước. MIỀN BẮC VỪA CHIẾN ĐẤU CHỐNG CHIẾN TRANH PHÁ HOẠI LẦN THỨ NHẤT CỦA MĨ, VỪA SẢN XUẤT VÀ LÀM NGHĨA VỤ HẬU PHƯƠNG (1965 – 1968) 1. Đế quốc Mĩ gây chiến tranh phá hoại miền Bắc lần thứ nhất a. Âm mưu – Phá hoại tiềm lực kinh tế, quốc phòng và công cuộc xây dựng CNXH ở miền Bắc. – Ngăn chặn chi viện từ bên ngoài vào miền Bắc và từ miền Bắc vào miền Nam. – Uy hiếp tinh thần, lung lay ý chí chống Mĩ của nhân dân Việt Nam. – Cứu nguy cho chiến lược “chiến tranh đặc biệt”, hỗ trợ cho chiến lược “chiến tranh cục bộ” ở miền Nam. b. Thủ đoạn – Ngày 5/8/1964, Mĩ dựng lên “Sự kiện vịnh Bắc Bộ”, vu các hải quân Việt Nam tân công tàu khu trục của Mĩ. – Ngày 7/2/1965, Mĩ chính thức tiến hành cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc lần thứ nhất. – Huy động lực lượng không quân và hải quân lớn; bắn phá vào các mục tiêu quân sự, giao thông, nhà máy, trường học, nhà trẻ, bệnh viện, nhà thờ, … 2. Miền Bắc chiến đấu chống chiến tranh phá hoại, thực hiện nghĩa vụ hậu phương a. Chủ trương của Đảng Chuyển mọi hoạt động sang thời chiến, thực hiện quân sự hóa toàn dân, triệt để sơ tán, phân tán những nơi đông dân để tránh thiệt hại về người và của. b. Quân dân miền Bắc chống chiến tranh phá hoại – Bắn rơi, phá hủy 3243 máy bay, trong đó có 6 máy bay B52, 3 máy bay F111; bắn chìm 143 tàu chiến, … – Ngày 1/11/1968, Mĩ tuyên bố ngừng ném bom miền Bắc. c. Miền Bắc thực hiện nghĩa vụ hậu phương – Từ năm 1959, tuyến đường chiến luộc Hồ Chí Minh trên bộ, trên biển bắt đầu được khai thông. – 1965 – 1968, miền Bắc đã đưa hơn 30 vạn cán bộ, bộ đội và hàng chục vạn tấn vũ khí, lương thực, … vào chiến trường miền Nam. QUÂN DÂN MIỀN NAM CHIẾN ĐẤU CHỐNG CHIẾN LƯỢC “VIỆT NAM HÓA CHIẾN TRANH” VÀ “ĐÔNG DƯƠNG HÓA CHIẾN TRANH” CỦA ĐẾ QUỐC MĨ (1969 – 1973) 1. Chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” và “Đông Dương hóa chiến tranh” a. Hoàn cảnh ra đời Chiến lược “Chiến tranh cục bộ” thất bại → Mĩ đã chuyển sang thực hiện chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” ở miền Nam Việt Nam và mở rộng sang thực hiện “Đông Dương hóa chiến tranh”. b. Đặc điểm: – Là loại hình chiến tranh xâm lược thực dân mới của Mĩ. – Quân Mĩ và quân đồng minh của Mĩ rút dần về nước (thực hiện “thay màu da trên xác chết” → giảm bớt thương vong của quân Mĩ và quân đồng minh trên chiến trường). – Âm mưu: “Dùng người Việt đánh người Việt” → mở rộng thành “Dùng người Đông Dương đánh người Đông Dương”. c. Thủ đoạn thực hiện – Tăng cường viện trọ quân sự cho chính quyền Sài Gòn. – Mở các cuộc hành quân xâm lược sang Lào và Campuchia, do quân đội Sài Gòn làm lực lượng chủ lực. – Hòa hoãn với Trung Quốc và Liên Xô nhằm hạn chế sự giúp đỡ của các nước này đối với cách mạng Việt Nam. – Tăng cường đánh phá miền Bắc bằng không quân và hải quân; sẵn sàng “Mĩ hóa” trở lại chiến tranh xâm lược khi cần thiết. 2. Thắng lợi tiêu biểu của quân dân miền Nam Việt Nam a. Phong trào chống “bình định” phá “ấp chiến lược” – Diễn ra khắp các vùng nông thôn, đồng bằng, rừng núi, ven đô thị, … – Lôi cuốn đông đảo các tầng lớp nhân dân tham gia. – Năm 1971, lực lượng cách mạng làm chủ thêm được hàng nghìn ấp. b. Thắng lợi quân sự – Liên quân Việt – Campuchia đập tan cuộc hành quân xâm lược Campuchia của Mĩ và quân đội Sài Gòn (1970). – Liên quân Việt – Lào đập tan cuộc hành quân “Lam Sơn 719” của Mĩ và quân đội Sài Gòn (1971). – Quân dân Việt Nam tiến hành cuộc Tiến công chiến lược (1972) → buộc Mĩ phải tuyên bố “Mĩ hóa” trở lại cuộc chiến tranh xâm lược. c. Thắng lợi chính trị – ngoại giao – 6/6/1969, Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam được thành lập, được nhiều nước công nhận và đặt quan hệ ngoại giao. – 24 và 25/4/1970, Hội nghị cấp cao ba nước Đông Dương biểu thị quyết tâm đoàn kết chống Mĩ của ba nước. – 27/1/1973, Hiệp định Pari về Việt Nam được kí kết → căn bản hoàn thành nhiệm vụ đánh cho Mĩ cút.
II. HỆ THỐNG CÂU HỎI ÔN LUYỆN

[ads]